8 quy định mới đáng chú ý về bảo hiểm y tế bắt buộc được áp dụng từ ngày 1/9/2021

Từ ngày 1/9/2021, các chính sách mới về BHXH bắt buộc được quy định trong thông tư 06/2021/TT-BLĐTBXH sẽ chính thức có hiệu lực.

nguyet
nguyet

8 quy định mới đáng chú ý về bảo hiểm y tế bắt buộc được áp dụng từ ngày 1/9/2021

Chính sách mới về BHXH bắt buộc được quy định trong thông tư 06/2021/TT-BLĐTBXH sẽ có hiệu lực từ ngày 1/9/2021. Cùng điểm qua một số nội dung đáng chú ý sau:

1. Bổ sung đối tượng tham gia BHXH bắt buộc

Thông tư 06/2021/TT-BLĐTBXH quy định tại Khoản 1 Điều 1 như sau:

  • “Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn đồng thời là người giao kết hợp đồng lao động quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội thì tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo đối tượng quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội.”

Như vậy, những người hoạt động không chuyên trách tại xã, phường, thị trấn và có hợp đồng lao động không thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, hợp đồng lao động có thời hạn trên từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng bắt buộc phải đóng 8% mức tiền lương tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất.

2. Bổ sung, sửa đổi quy định về mức hưởng chế độ ốm đau của người lao động

Đối với trường hợp người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài

Thông tư 06/2021 vẫn tính mức hưởng chế độ ốm đau cho người lao động theo công thức cũ sau:

Mức hưởng chế độ ốm đau đối với bệnh cần chữa trị dài ngày của những ngày lẻ không trọn tháng = (Tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc / 24 tháng) * Tỷ lệ hưởng chế độ ốm đau (%) * Số ngày nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau.

Tuy nhiên theo quy định mới, trong trường hợp có ngày lẻ không trọn tháng, thì mức hưởng chế độ ốm đau trong những ngày lẻ không trọn tháng vẫn tính theo công thức trên, nhưng trợ cấp tối đa bằng mức trợ cấp ốm đau một tháng.

Đối với trường hợp người lao động bị ốm đau, tai nạn mà không phải tai nạn lao động:

Bổ sung quy định: người lao động bị ốm đau, tai nạn mà không phải tai nạn lao động hoặc phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 7 tuổi bị ốm đau mà thời gian nghỉ việc từ 14 ngày trở lên trong tháng (bao gồm cả trường hợp nghỉ việc không hưởng lương) thì mức hưởng chế độ ốm đau được tính trên mức tiền lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

Trường hợp các tháng liền kề tiếp theo người lao động vẫn tiếp tục bị ốm và phải nghỉ việc thì mức hưởng chế độ ốm đau được tính trên tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

Trong khi đó, theo quy định cũ: Mức hưởng chế độ ốm đau của người lao động bị ốm đau, tai nạn mà không phải tai nạn lao động được tính trên tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của chính tháng đó.

Bổ sung, sửa đổi quy định về mức hưởng chế độ ốm đau của người lao động

Bổ sung, sửa đổi quy định về mức hưởng chế độ ốm đau của người lao động

3. Thêm trường hợp hưởng trợ cấp một lần khi sinh con với lao động nam

Điều 38 Luật BHXH có quy định về trợ cấp một lần khi sinh con như sau:

  • “Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia BHXH thì cha được trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con.”

Quy định này đã được làm rõ hơn trong Khoản 5 Điều 1 Thông tư 06/2021:

  • “Trường hợp người mẹ tham gia BHXH nhưng không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con mà người cha đủ điều kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 9 Thông tư 59/2015 thì người cha được hưởng trợ cấp một lần khi sinh con theo Điều 38 Luật BHXH.”

Như vậy, nếu hai vợ chồng cùng tham gia BHXH, nhưng người vợ không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản, mà người chồng đã đóng BHXH đủ 06 tháng trong 12 tháng trước khi sinh con thì sẽ được hưởng trợ cấp một lần khi sinh con, với mức hưởng bằng 02 tháng lương cơ sở khi sinh con cho mỗi đứa con:

Mức hưởng trợ cấp một lần khi sinh con = 2 tháng lương cơ sở/con

4. Sửa đổi, bổ sung quy định mới về thời gian hưởng chế độ thai sản

Sửa đổi quy định về thời gian hưởng chế độ thai sản khi người lao động nữ sinh đôi

Theo đó, Khoản 06 Điều 01 Thông tư 06/2021 quy định như sau:

  • “Trường hợp lao động nữ mang thai đôi trở lên mà khi sinh nếu có con bị chết hoặc chết lưu thì thời gian hưởng, trợ cấp thai sản khi sinh con và trợ cấp một lần khi sinh con được tính theo số con được sinh ra, bao gồm cả con bị chết hoặc chết lưu.”

Trong khi tại Khoản 3 Điều 10 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, chế độ thai sản chỉ được giải quyết khi con còn sống.

Bổ sung các quy định mới về thời gian hưởng chế độ thai sản

Bổ sung các quy định sau về thời gian hưởng chế độ thai sản:

  • “Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào quỹ ốm đau và thai sản khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định tại khoản 2 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội, trường hợp nghỉ nhiều lần thì thời gian bắt đầu nghỉ việc của lần cuối cùng vẫn phải trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con và tổng thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không quá thời gian quy định.”
  • Thời gian hưởng chế độ thai sản trùng với thời gian nghỉ việc riêng, nghỉ phép hàng năm, nghỉ không lương sẽ không được tính hưởng chế độ với các trường hợp: nghỉ chế độ đi khám thai; nghỉ chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý; nghỉ chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai; nghỉ chế độ của lao động nam có vợ sinh con.
Sửa đổi, bổ sung quy định mới về thời gian hưởng chế độ thai sản

Sửa đổi, bổ sung quy định mới về thời gian hưởng chế độ thai sản

    6. Hướng dẫn chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản

    Điều 41 Luật BHXH năm 2014 quy định như sau:

    • “Lao động nữ ngay sau thời gian hưởng chế độ thai sản quy định tại Điều 33, khoản 1 hoặc khoản 3 Điều 34 của Luật này, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 05 ngày đến 10 ngày.”

    Thông tư 06/2021 đã hướng dẫn cụ thể cho quy định này:

    • “Khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc theo quy định tại khoản 1 Điều 41 của Luật Bảo hiểm xã hội là khoảng thời gian 30 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn được hưởng chế độ thai sản mà sức khỏe của người lao động chưa phục hồi.”

    7. Sửa đổi, bổ sung điều kiện hưởng lương hưu 

    Sửa đổi điều kiện hưởng lương hưu đối với người bị tước quân tịch

    Thông tư 06/2021 quy định:

    Những đối tượng sau bị tước quân tịch hoặc tước danh hiệu công an nhân dân sẽ được hưởng lương hưu nếu đáp ứng đủ các điều kiện như người lao động bình thường:

    • Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân
    • Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân
    • Người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân
    • Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân
    • Hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn
    • Học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí

    Trong khi đó, khoản 2 Điều 54 Luật BHXH quy định: nếu không bị tước quân tịch, danh hiệu công an nhân dân thì những người này có thể về hưu trước đến 05 năm so với người lao động bình thường.

    Bổ sung quy định hưởng lương hưu đối với những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn

    Thông tư 06/2021 bổ sung quy định như sau:

    • “Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn mà có từ đủ 20 năm trở lên đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không theo đối tượng người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn khi nghỉ hưu có mức lương hưu thấp hơn mức lương cơ sở tại thời điểm hưởng lương hưu thì được áp dụng quy định mức lương hưu hằng tháng thấp nhất bằng mức lương cơ sở.”

    Trước đó, thông tư Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH chưa quy định điều khoản trên.

    Bổ sung quy định về tiền lương tháng đóng BHXH để tính hưởng lương hưu

    Thông tư 06/2021 bổ sung quy định như sau:

    “Khi tính mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần mà có thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 10 năm 2004 theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của thời gian này được chuyển đổi theo chế độ tiền lương tại thời điểm hưởng chế độ hưu trí, tử tuất.

    Riêng đối với người lao động có thời gian làm việc trong các doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định mà hưởng bảo hiểm xã hội từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 trở đi thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 10 năm 2004 nêu trên được chuyển đổi theo tiền lương quy định tại Nghị định số 205/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ.”

    Bổ sung quy định về lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu

    Bổ sung quy định về lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu

    8. Bổ sung quy định liên quan đến trợ cấp tuất

    Thông tư 06/2021 bổ sung thêm quy định liên quan việc xét tuổi của thân nhân người lao động để hưởng chế độ tuất hàng tháng:

    “Thời điểm xem xét tuổi đối với thân nhân của người lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 67 của Luật Bảo hiểm xã hội là kết thúc ngày cuối cùng của tháng người lao động chết.

    Khi giải quyết chế độ tử tuất nếu hồ sơ của thân nhân người lao động không xác định được ngày, tháng sinh thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm sinh để tính tuổi làm cơ sở giải quyết chế độ tử tuất.

    Việc xác định mức thu nhập của thân nhân người lao động để làm căn cứ giải quyết trợ cấp tuất hàng tháng theo quy định tại khoản 3 Điều 67 của Luật Bảo hiểm xã hội được xác định tại tháng người lao động chết. Thân nhân đã được giải quyết hưởng trợ cấp tuất hàng tháng theo đúng quy định mà sau đó có thu nhập cao hơn mức lương cơ sở thì vẫn hưởng trợ cấp tuất hàng tháng.”

    Bổ sung quy định liên quan đến trợ cấp tuất

    Bổ sung quy định liên quan đến trợ cấp tuất

    Trên đây là những điểm sửa đổi, bổ sung đáng chú ý về BHXH sẽ được áp dụng từ ngày 1/9/2021. Papaya hi vọng các bạn đã nắm rõ những quy định mới để đảm bảo quyền lợi cho chính mình.

    Bạn muốn đọc bài mới nhất từ Papaya mỗi tuần?

    Để lại email của bạn nhé!